Thứ Bảy, 6 tháng 3, 2010

Nhỏ và To





Tình cờ lượm trên mạng được bài viết vui vui nói về Nhỏ và To.
Nhớ lại gần đây nhiều người vẫn còn băn khoăn về chuyện "Việt Nam ta to hay nhỏ?". Trộm nghĩ, hình như chúng ta đang mắc căn bệnh: bị nhỏ cái cần to và bị to cái cần nhỏ. Không đúng thì thôi! He he …




Việt Nam ta là một đất nước nhỏ.
Đất nước nhỏ nhưng lại có cái thủ đô rất to.
Trong cái thủ đô rất to có những con đường rất nhỏ.
Trên những con đường rất nhỏ lại có những ngôi biệt thự rất to.
Trong những ngôi biệt thự rất to có những cô vợ nhỏ.
Những cô vợ nhỏ là của các ông quan to.
Các ông quan to xách những cái cặp rất nhỏ,
Trong những cái cặp rất nhỏ có những dự án rất to.
Những dự án rất to nhưng hiệu quả lại rất nhỏ.
Hiệu quả rất nhỏ nhưng thất thoát thì rất to.
Thất thoát thì rất to nhưng trách nhiệm thì rất nhỏ... 



Cứ theo đà này có lẽ mình còn có thể viết thêm nhiều câu nữa ... Ví dụ như “Trách nhiệm rất nhỏ nhưng lợi lộc lại rất to/ Lợi lộc rất to nhưng thanh tra cho là rất nhỏ …”. Nhưng thôi, có mà đến Tết cũng chưa hết!

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

Cứ về Xuyên Mộc lại thấy buồn

Tôi vừa có chuyến về lại Xuyên Mộc, ghé thăm một người chị, người mà cả bọn chúng tôi hồi đó đều gọi là má Thành. Vẫn căn nhà nhỏ trong khu vườn rộng. Nơi ấy hơn ba mươi năm trước anh em bạn bè chúng tôi đã từng ăn dầm nằm dề trong suốt những ngày khốn khó của cơn đại hồng thủy thời bao cấp, thời mà mỗi đứa trai tráng tuổi hai mươi sức như Phù Đổng tụi mình mỗi tháng chỉ được có vài ba ký gạo hẩm mốc, còn lại là bột củ mỳ, là khoai lang xắt lát phơi khô, là bo bo, là chuối cả buồng còn xanh chưa kịp chín …Thế nên con người ta lúc nào cũng cảm thấy đói, thèm ăn, mơ được ăn, chỉ cơm trắng với mắm kho quẹt thôi cũng đã là sung sướng lắm rồi và đêm đến, trong cái lạnh của núi rừng thì chỉ một gói chè bánh ú, một phong kẹo đậu phụng hoặc một thỏi đường táng, một nhúm thuốc rê ... đã ltrở thành yến tiệc.

Nơi ấy, vẫn khu vườn hoang tàn xơ xác của mấy người đàn bà nghèo, cô quả nhưng giàu tình người đã cưu mang, chăm chút và san sẻ cho anh em chúng tôi từng viên thuốc, từng chén cháo, từng nồi nước xông … khi bệnh hoạn và cả những lúc mệt mỏi, chán chường, tuyệt vọng.

Mấy ai ra đi mà còn quay về chốn cũ, nhất là khi chốn cũ ấy lại nghèo nàn quê kệch; mấy ai yên ấm hôm nay mà nhớ những ngày gian khổ đã qua. Chắc chắn sẽ có nhiều người trong anh em chúng tôi không biết rằng nơi ấy vẫn còn những con người cũ kỹ của ngày xưa, họ vẫn sống, vẫn âm thầm cam phận trong cái lam lũ, nghèo khó của mình và họ cũng chẳng bao giờ mong rằng những chàng trai, cô gái hồn nhiên vô tư đến từ thành phố ngày xưa còn nhớ đến họ. Cái thời gian khó mà đầy ắp tình người ấy, với nhiều người trong anh em chúng tôi đã trở thành dĩ vãng mờ xa, nhạt nhòa cả trong ký ức!

Về lại Xuyên Mộc, đi qua Bà Tô sầm uất nhộn nhịp, lại đến thị trấn Xuyên Mộc buồn bã trong cái cũ kỹ không mấy thay đổi so với mấy chục năm trước, qua đình Long Tâm cây đa cũ vẫn xòe tán xanh um rợp mát cả một đoạn đường, rẽ vào con hẽm quen thuộc ngày xưa lầy lội dấu chân trâu bò nay đã trải nhựa với những căn nhà khang trang. Nhưng sao vẫn là con đường đất gồ ghề vào nhà má Thành, vẫn khu vườn xưa hoang vắng tiêu điều, vẫn gốc nhãn già nua trước sân từ lâu không đơm hoa kết trái vương trên cành chiếc võng rách tươm, vẫn gian nhà gỗ nhỏ trống chếnh và bóng má nghiêng nghiêng, lêu khêu giữa những hàng cây, những vạt nắng và cả những bờ cỏ dại.

           Ở đây, mọi thứ vẫn như cũ, dường như cả không gian, thời gian và vạn vật đều ngừng lại, tù đọng từ hơn ba mươi năm trước. Và giữa sân, thằng T. đứa con trai bé bỏng mà má Thành đầy kỳ vọng nay đã già xọp, còm cõi, xanh xao đang thả hồn bên chai rượu đế, miếng cá khô đù, tép bưởi xanh nhặt nhạnh trong vườn, miệng lẩm bẩm những câu nghễnh ngãng ... Má Thành ngồi đó nhìn thằng con, mắt dửng dưng rồi cúi xuống nhìn bàn tay đen đủi gầy guộc, hình như má cũng chẳng còn giọt nước mắt nào để khóc thương, dù là khóc thương cho thân phận của mình…

Mỗi lần về Xuyên Mộc lại thấy buồn, cái buồn day dứt phải đến mấy ngày mới thôi! Nhưng cũng chỉ biết buồn… thế thôi!

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

Lục bát có là thể thơ dân tộc?

Từ lâu tôi và có lẽ rất nhiều người vẫn đinh ninh lục bát là thể thơ dân tộc, chỉ mình mới có, nhưng khi đọc bài của tác giả Nguyễn Văn Tuấn - một GSTS y khoa nhưng lại rất ư văn nghệ, đang sống và làm việc tại Australia - tôi bỗng giật mình. Xin lưu lại để tham khảo  - songdinhbr’blog

Thơ lục bát là của người Chăm?
Từ lâu, tôi vẫn nghĩ thơ lục bát là thể thơ thuần Việt, nhưng đọc bài sau đây của Inrasara mới biết rằng suy nghĩ (hay niềm tin) của mình có thể sai. Có lẽ người Chăm sáng tạo ra thơ lục bát, và người Việt (Kinh) chỉ bắt chước và phát triển thêm mà thôi. Theo Inrasara thì chưa biết thơ lục bát của Chăm ra đời lúc nào, nhưng thể thơ này đã xuất hiện trong thời gian cuối thế kỉ 16 đến đầu thế kỉ 17. Có giả thuyết (Vũ Quang Việt) cho rằng thơ lục bát của VN “có thể phát triển sau khi Việt Nam bắt nhiều ca nhân Chăm đem về khu vực Sơn Tây. Chùa Thày cũng có tượng chim Garuda, là hình tượng của văn hóa Chăm và Ấn Độ.”
Ít ai đặt câu hỏi thơ lục bát xuất phát từ đâu. Nhưng ở miền Nam trước đây, Nhạc sĩ Phạm Duy trong một cuốn sách viết về dân ca có nói đến một bài hát Chăm soạn theo thể thơ kiểu lục bát.
Theo Nguyễn Đức Hiệp (Diễn Đàn) thì “Thể thơ Ariya tương tự như thơ lục bát Việt và Inrasara cho ta thấy qua đối chiếu và phân tích sơ bộ, lục bát Việt và ariya Chăm có rất nhiều điểm giống nhau. Trong đó cái giống nhất là nhịp điệu của chúng. Thể thơ ariya đã được mang vào các tác phẩm về thơ ca trữ tình, tương tự như thể thơ lục bát trong những tác phẩm văn học Việt Nam như Bích câu Kỳ ngộ, Lục Vân Tiên hay Truyện Kiều. Tuy nhiên có điều khác biệt là ngoài Ariya Ppo Thien và Ariya Kei Oy của Ppo Thien (Thiên Sanh Tây), Ariya Rideh Apwei của Phú Bô, tất cả các tác phẩm văn học trước thế kỷ 20 kể cả ariya thơ ca trữ tình, sử thi Akayet đều là khuyết danh, không xác định được tác giả.”



Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Bài học về lòng yêu nước - Gioheomay

Ưu tiên giáo dục thanh thiếu nhi lòng yêu nước” _ đó là nhiệm vụ hàng đầu trong năm 2010 của Đoàn _ mà tại Hội nghị ban thường vụ TƯ Đoàn lần thứ 9 khóa IX, Bí thư thứ nhất TƯ Đoàn Võ Văn Thường đã nhấn mạnh .
Thảo luận chương trình công tác Đoàn, phong trào TTN , ông Ngọ Duy Hiếu bí thư Thành Đoàn Hà Nội cho rắng năm 2010 đánh dấu nhiều sự kiện trọng đại của đất nước , phải gắn việc tuyên truyền với các chương trình “Thắp sáng ước mơ Tuổi trẻ VN” tổ chức nhiều hoạt động , nhiều cuộc thi , diễn đàn trong các dịp lễ lớn…
 Cụ thể toàn Đoàn tập trung giáo dục lý tưởng, truyền thống , đạo đức lối sống cho TTN, tổ chức thực hiện các công trình thanh niên tham gia phát triển kinh tế xã hội, giải quyết các khó khăn,bức xúc của cộng đồng, tổ chức các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn và Đại hội Đảng các cấp, xây dựng Đoàn vững mạnh ; đánh giá giữa nhiệm kỳ việc triển khai thực hiên Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần IX.
 Toàn Đoàn phấn đấu 100% tỉnh, Thành Đoàn , Đoàn trực thuộc tổ chức tốt cuộc thi : Tìm hiểu 80 năm vẻ vang Đảng Cộng sản VN , cuộc thi tìm hiểu 1000 năm Thăng Long – Hà Nội , tổ chức thực hiện gắn biển 11 công trình TN cấp quốc gia ,80 công trình TN cấp tỉnh và 1000 công trình TN cấp cơ sở , tư vấn dạy nghề cho 1 triệu Đoàn viên , giới thiệu và giải quyết việc làm cho 500 000 TN , xây dựng mới 400 điểm tuyên truyền, phổ biến khoa học công nghệ và điểm truy cập Internet cho TN nông thôn, miền núi , kết nạp 1 triệu Đoàn viên mới và giới thiệu cho Đảng 300 000 Đoàn viên ưu tú
 Hôm nay 25.11 hội nghị tiếp tục thảo luận về các nội dung trên và nghị quyết sẽ phát huy vai trò xung kích của TN và lực lượng doanh nhân trẻ VN trong hội nhâp kinh tế Quốc tế  giai đoạn 2009 – 2012 .  -    Đ . Bình – Lâm Hoài (Báo Tuổi trẻ ngày 25/11)
Đọc chương trình hành động đang được thảo luận và sẽ được đưa ra thực hiện của TƯ Đoàn...tôi vẫn thấy có điều chi chưa thật sự thuyết phuc..vẫn còn đâu đó những cái lợn cợn làm tôi nghi ngờ tính hiệu quả của kế hoạch và mục đích tốt đẹp trên.
Trong tất cả các bài học …bài học về lòng yêu nước có lẽ là bài học dài nhất, tưởng chừng như khó dạy nhất nhưng lại đi từ những điều bình thường nhất , giản dị nhất và gần gũi nhất .

Chuyện không vui ở quê ta

Thành lập đoàn giải quyết tố cáo đối với ban Thường vụ tỉnh uỷ Bà Rịa – Vũng Tàu
SGTT - Uỷ ban kiểm tra Trung ương vừa có quyết định số 1913 thành lập đoàn giải quyết khiếu nại tố cáo đối với ban Thường vụ tỉnh uỷ và cá nhân các ông Nguyễn Tuấn Minh, ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh uỷ; ông Trần Minh Sanh, phó bí thư tỉnh uỷ, chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trước đó, uỷ ban kiểm tra Trung ương đã nhận nhiều đơn của các đảng viên, các vị lão thành cách mạng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tố cáo những cá nhân trong ban Thường vụ và lãnh đạo tỉnh này có nhiều sai phạm trong quá trình thực hiện các dự án. Một trong nhiều nội dung tố cáo đó đã được Thanh tra Chính phủ kết luận là có sai phạm.
Trong đơn “tố cáo tham nhũng và bao che tham nhũng” do ông Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm 1952, đảng viên, trung tá quân đội, từng công tác văn phòng tiếp công dân UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói lãnh đạo tỉnh này đã “sửa đổi quy hoạch, biến công viên thành nhà ở lãnh đạo” tại dự án trung tâm thương mại Vũng Tàu.

Tản mạn về nghệ sĩ

Vào khoảng năm 73, 74 gì đó, trên một tờ báo văn nghệ của Sài Gòn người ta có  hỏi một nhà văn rằng: “Nghệ sĩ là người như thế nào?”, ông nhà văn đó trả lời không biết đùa hay thực rằng: “Nghệ sĩ là người luôn xài những đồ rẻ tiền!”. Không hiểu sao tôi nhớ mãi câu trả lời này cho đến tận bây giờ. Ngày ấy, bọn trẻ chúng tôi luôn coi nghệ sĩ gần như những bậc thần thánh. Các nhà văn, nhà thơ Mai Thảo, Nhã Ca, Phạm Công Thiện, Du Tử Lê, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng … rồi các nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Đình Chương … các ca sĩ Thái Thanh, Hà Thanh, Sĩ Phú … luôn là những thần tượng và cao vời vợi. Nhớ có lần đi Vũng Tàu với lũ bạn, tối vào một quán cà phê, chọn một góc ngoài vườn ôm ghi-ta ngồi hát nho nhỏ với nhau những bài du ca, đang hát bỗng có một người đàn ông trung niên ôm chai rượu Martell ra mời mỗi đưa một ly và nói “Chào những người bạn văn nghệ”. Mời rượu xong ông trung niên nọ lại lững thững đi vào. Thằng bạn là dân thổ địa Vũng Tàu thầm thì: “Nhà thơ LQ đấy”. Trời ơi cả bọn ngỡ ngàng đến ngộp thở và câu “Chào những người bạn văn nghệ” vừa nãy bỗng tăng ép phê lên tột độ. Cã lũ sướng rêm, cả đêm không ngủ được và hình ảnh người nghệ sĩ tối hôm đó luôn lưu lại trong ký ức chúng tôi như một kỷ niệm đẹp và lãng mạn.

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2010

Chuyện công đoàn



Ai cũng biết công đoàn ở ta chỉ là một tổ chức hữu danh mà vô thực, vô lực, vô quyền, nhất là cái anh công đoàn của các cơ quan hành chính hoặc sự nghiệp. Bởi ở người thì anh cán bộ công đoàn là người của nghiệp đoàn, hưởng lương từ nghiệp đoàn nên họ làm việc độc lập và đủ tư cách để lên tiếng bênh vực quyền lợi người lao động khi cần thiết. Còn ở ta, anh cán bộ công đoàn cũng như bao anh cán bộ nhân viên khác đều ăn lương nhà nước, nếu là công chức; hoặc ăn lương ông chủ, nếu là tư nhân, vậy thử hỏi có thằng điên nào dám lên gân đấu tranh với nhà nước hoặc ông chủ nếu muốn cho nồi cơm của mình được yên ổn? Một công nhân đã nói với báo chí rằng: “Công đoàn ở Việt nam không giống như nghiệp đoàn ở các nước phương Tây. Công đoàn ở đây nó giống như công đoàn của chủ chứ không phải là công đoàn của công nhân. Nó chỉ bênh vực quyền lợi của chủ chứ không bênh vực quyền lợi của công nhân.”Thế là tuy cương lĩnh công đoàn ghi rành rành là đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…. Nhưng thôi đành lòng làm ông bù nhìn đứng giữa mênh mông đất trời để ... chẳng biết làm gì!

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2010

Trung Quốc trong mắt Nhật Bản, cách nhìn tạo ra số phận

Một bài viết hay của  Nguyễn Lương Hải Khôi đáng để suy ngẫm về nhiều vấn đề, trong đó có văn hoá Việt... (Nguồn: Tuần Việt Nam, vietnamnet)
LTS Tuần Việt Nam: Thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có tính cách thời đại, đang bàn thảo sôi nổi về tác động này. Định vị Trung Quốc đang trở thành một chủ đề nóng ở nhiều nước trong khu vực.

Bài viết dưới đây đưa ra một góc phân tích về cách nhìn Trung Quốc của Việt Nam và Nhật Bản thời phong kiến. Đây là góc nhìn riêng của tác giả cần được tranh luận, làm sáng tỏ thêm. Mời bạn đọc phản biện bài viết này.






 Nếu như lịch sử hiện đại của các nước Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) là lịch sử quan hệ với Phương Tây, thì trong các thời kỳ tiền hiện đại, lịch sử của Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là lịch sử của mối quan hệ với Trung Quốc.



Trong thời đại ngày nay, khi Trung Quốc đang ôm tham vọng giành lại vị trí lịch sử đặc biệt trước đây. Để định vị chính mình, Việt Nam không thể không định vị Trung Quốc. Chúng ta hãy thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.





Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2010

Cung chúc tân xuân

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2010

Thèm quê

Cứ vào dịp cuối năm khi nghe ai đó bảo về quê ăn Tết là tôi lại có cảm giác hụt hẫng. 
Hụt hẫng bởi có lẽ tôi là một trong số ít người thiếu may mắn khi không có quê để đi, về. Tôi cứ ao ước phải chi mình có một nơi nào đó gọi là quê để cũng được như mọi người tất tả sắm sanh quà bánh, rồi vất vả loay hoay với tàu xe để về quê ăn tết. 
Về quê, chỉ hai tiếng bình thường thế thôi sao mà thiêng liêng và xa vời đến thế. Về quê để được đắm mình trong không gian sực nức mùi rơm rạ, mùi khói đốt đồng, mùi ngai ngái của những con đường đất lồi lõm dấu châu trâu bò; ẩn mình trong cái bát ngát xanh của những rặng tre, đồng lúa, liếp rau, bờ giậu và của những ao chuôm quanh nhà. Để được chuyện trò thăm hỏi họ hàng, để con cái mình được gọi những tiếng "Ông, Bà, Cậu, Mợ ..." và đêm về nằm trong gian nhà họ đơn sơ nhưng ấm mùi khói hương thoang thoảng, với tiếng lửa reo lách tách của nồi bánh chưng đang sôi ngoài hiên, rồi được thấm thía cái rét của miền quê và cuộn mình trong chăn nghe tiếng mưa xuân rả rích trên những tàu chuối sau nhà cùng tiếng côn trùng đếm nhịp thời gian ...
Có lẽ do thèm quê nên tôi luôn cho rằng ký ức tuổi thơ đẹp đẽ nhất bao giờ cũng thuộc về những đứa trẻ được sinh ra và lớn lên nơi làng quê, nơi chúng được thả diều, chăn trâu, bắt dế, chơi trò đánh trận giả trên những triền đồi đầy sim; nơi mà cứ ngày rằm hoặc lễ, tết người trong làng đều tụ tập về ngôi chùa cổ thơm lừng mùi hoa đại, nghe tiếng kinh kệ, ăn bữa cơm chay, hoà mình trong không gian tâm linh thần thánh mà vẫn cảm thấy cái gần gũi, ấm áp của người quê, tình quê ...
Thèm, thèm ghê lắm, nhưng quê vẫn là một chốn quá xa vời! Thôi thì đành về trong tâm tưởng vậy! 
(28 tết Canh Dần)