Sáng nay xem báo thấy vụ một sinh viên Việt Nam đang du học tại Mỹ bị cảnh sát Mỹ hành hung quá tay. Thanh tra cảnh sát Mỹ đã vào cuộc, lãnh sự quán của ta ở San Francisco cũng đã lên tiếng. Vì sao? Vì sinh viên này cầm dao hăm dọa giết một sinh viên cùng phòng. Thế là có chuyện.
Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009
Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009
Tranh thủ
“Tranh thủ”, trong từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ, có nghĩa là “giành lấy về phần mình sự đồng tình, ủng hộ. Ví dụ: Các đảng đối lập ra sức tranh thủ quần chúng”. Còn trong nghĩa Hán-Việt là “tranh đoạt trên tay kẻ khác”.
Thứ Ba, 27 tháng 10, 2009
Tội cho dân quá!
Sáng nay uống cà phê với mấy ông bạn nghe chuyện có ông Th. gì đó đang phải ngồi chơi xơi nước dài dài vì năng lực ông yếu quá, chẳng làm gì được, đụng chuyện nào hư chuyện đó, lại còn đạo đức tác phong cũng không lấy gì làm “hoành tráng”, nên ở đâu cũng bị dân kiện, dân thưa, dân chửi. Thậm chí trước kia khi còn làm quản lý thị trường, do "ăn uống vệ sinh" quá, ông đã từng bị dân rượt chạy có cờ, phải chui cả vào gầm giường để trốn.
Càm ràm vơ vẩn
Dự hội thảo “Bàn về biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục học sinh” của một trường THCS với tư cách là một phụ huynh học sinh mình cảm thấy vui vì nhiều lẽ. Trước hết, vui vì thấy ngày nay cái “cửa Khổng sân Trình” uy nghiêm im ỉm đã chịu mở toang cánh cửa để sẵn sàng chia sẻ và lắng nghe những ý kiến đóng góp của phụ huynh, của địa phương, của các vị cựu giáo chức, của hội đồng giáo dục …, dẫu rằng không phải ý kiến nào cũng đúng và mang tinh thần xây dựng. Vui vì mình hiểu được tấm lòng của thầy cô lo cho con cái tụi mình, vui vì hiểu thêm cái nghề giáo tưởng nhẹ bâng, “ngồi mát ăn bát vàng” mà sao cũng gian nan cực khổ quá chừng… Vui nhiều lắm nhưng vui nhất là thấy được cái trách nhiệm của người thầy đối với học trò…
Thứ Tư, 7 tháng 10, 2009
Tiếng chim lợn
Khi còn nhỏ, mỗi lần nghe tiếng chim lợn kêu đêm mẹ tôi lại thở dài, lo lắng và thắp thêm nén hương lên bàn thờ giữa nhà. Mẹ bảo tiếng chim lợn báo tin rằng có một người sắp sửa từ giã trần gian để trở về với cát bụi và mẹ thắp hương là để tiễn đưa và cầu nguyện cho linh hồn nào đó sớm được siêu thoát. Cứ mỗi lần như thế mẹ lại bồn chồn không nguôi bởi bố tôi ngày ấy là một người lính thường xuyên vắng nhà ...
Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2009
Chưa chuẩn
Thật tội nghiệp cho 38 thầy cô ở Phan Rang-Tháp Chàm (Ninh Thuận) khi phải đeo cái Thẻ công chức với hàng chữ "Giáo viên chưa chuẩn" trên ngực mỗi khi đến trường. Chuyện tưởng chừng như xuất hiện ở cái thời xa xưa lắm, thời mà những kẻ phạm tội bị thích chữ lên mặt đưa đi biêu riếu trước bàn dân thiên hạ. Phải chăng việc làm của bà Nguyễn Thị Mẫu Đơn, trưởng phòng giáo dục cũng nhằm mục đích đó, và như vậy thầy cô chưa chuẩn về trình độ đào tạo cũng là những tội đồ! Khi làm việc này, liệu bà Mẫu Đơn (chắc cũng là một nhà mô phạm) có nhớ lại các nguyên tắc sư phạm, trong đó có nguyên tắc đối xử với đồng nghiệp hay không? Ngày nay, khi cả học sinh người ta cũng kêu gọi phải tôn trọng thì bà trưởng phòng giáo dục lại đi hạ nhục thầy cô giáo trước mắt những học sinh. Nhưng thử hỏi rằng trong hàng chục, hàng trăm cái chưa chuẩn, liệu có cái chưa chuẩn nào nguy hiểm cho bằng chưa chuẩn về tâm hồn, về nhân cách?
Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2009
Bạn
Thú thật là cho đến bây giờ tôi vẫn chẳng nhớ được mình đã gặp Ba Tính ở đâu và Ba Tính ở nhà mình đi học vào lúc nào nữa. Bởi ngày ấy căn nhà ọp ẹp, trống trếnh của tôi như nhà tập thể, lũ bạn khi vui đến ở vài bữa, lúc buồn lại khăn gói ra đi. Lúc ấy đứa nào cũng nghèo nên phải phân tán để tự sống thôi, chuyện đi ở vì thế cũng chẳng ai để ý. Sau này mình biết chuyện về Ba Tính cũng chỉ do anh em kể lại. Nhiều đứa bảo đi đâu Ba Tính cũng hỏi về mày, nó bảo nó học chung với mày, nó xin số điện thoại để gọi, thế mà mày chưa gặp nó à?
Thứ Hai, 8 tháng 6, 2009
Chuyện nhà lão Phỉnh
Dòng
họ lão Phỉnh giàu có tiếng nhiều đời nay. Đến đời lão ngoài việc thừa hưởng cả
một dinh cơ năm gian nhà ngói đồ sộ ven khúc sông làng uốn lượn lắm cá tôm, chung quanh kín cổng cao tường với chuồng
trâu, ao cá, lại còn bao nhiêu là đất cát ruộng vườn nằm rải rác trong làng! Cả cái gia đình tam đại
đồng đường nhà lão đều chung sống trong dinh cơ bề thế đó. Trên hết là vợ chồng lão,
rồi kế đến là đám con trai con gái, con dâu con rể, rồi lúc nhúc lau nhau cháu
chắt nội ngoại, có lẽ phải đến gần ba chục nhân khẩu. Lão tuy già đầu óc lúc
u lúc tỉnh nhưng vẫn quyết nắm giữ vai trò của người chủ đại gia đình chứ không
chịu giao lại quyền hành cho đứa con nào, dù rằng con cái lão không hiếm đưa có
năng lực và kể cả khao khát chờ đợi ngày lão ra đi cùng với các bậc tiên
hiền để thoả sức mà tiếp quản cái cơ ngơi đồ sộ này.
Nhưng lão Phỉnh còn lâu mới chết,
lão vẫn khoẻ như vâm, vẫn chuyên quyền và gia trưởng. Lão khoẻ bởi vì ngày nào
lão cũng ngậm sâm Cao ly và tẩm bổ đủ thứ sơn hào hải vị, lại còn chăm tập thể
dục thể thao nữa chứ! Sáng nào người ta cũng thấy lão xách cái vợt cầu lông ra
sân cùng với các mụ sồn sồn áo quần trắng lốp, mỏ đỏ, mắt xanh, tóc phi-dê quăn
tít, thích ăn phở hơn ăn cơm. Đã thế tháng một đôi lần lão lại cùng các chiến
hữu giàu tiền bạc, có địa vị đến cao lâu để ăn chơi cùng các đào nương thâu đêm
suốt sáng.
Khoẻ và phỡn nên lão ra sức củng
cố cái địa vị thái thượng hoàng của mình. Lão bắt con cái ngày nào cũng phải
họp đại gia đình vào buổi chiều tối để báo cáo những việc đã làm được trong ngày
rồi kiểm điểm, rút kinh nghiệm, rồi nghe lão huấn thị về cách đối nhân xử thế,
cách tính toán làm ăn ... cứ như là trong trại lính. Lũ con cháu ngán cái
trò này đến tận cổ nhưng chẳng đứa nào dám hó hé, trái lệnh. Thế nhưng chúng
cũng có cách để trả đũa lão. Chúng hè nhau báo cáo láo, kiểm điểm ma, rút kinh
nghiệm hão. Lão tuy còn khoẻ nhưng đã già lại nghễnh ngãng, hơn nữa tính lại
thích được nịnh nọt, bợ đỡ nên nghe những lời xiển dương ấy thì ra chiều thú vị
lắm. Và thế là lão càng dương dương tự đắc và ra sức khoe mẽ với làng trên xóm
dưới về cái tài tề gia, trị an của mình; về cái đại gia đình danh giá, nề nếp,
tôn ti trật tự. Thử hỏi cả cái làng này và cả làng bên có nhà nào gia
phong qui củ như nhà lão?
Đang yên đang lành thì đùng một
cái, chị con dâu trưởng của lão xin xây một bàn thờ thiên trước nhà để thuận
tiện cho việc cúng tế trời đất vào những dịp lễ tết. Chỉ thế thôi mà lão đùng
đùng nổi giận, đập bàn đập ghế, đỏ mặt tía tai:”Nhà này của ai? Ai là chủ? Tao
đã chết chưa mà chúng bay cứt lộn lên đầu? Không, nhất quyết là không! Đứa nào
trái lệnh thì cút khỏi nhà tao, chứ không một tấc đất nào được tuỳ tiện, nhà
này chỉ một bàn thờ, không có cái thứ hai …” Vợ lão, rồi đám con cháu phân bua, giải bày thế nào lão cũng không nghe. Khóc lóc, van lạy lão cũng mặc. Lão còn
đòi gọi cả công an khu vực, dân phòng đến để trấn áp lũ con cháu manh nha mầm
mống phản loạn (!) Lão làm dữ nên mọi việc lại yên ắng, đâu lại vào đấy, nhưng
lũ con cháu thì oán hận lắm lắm. Chúng bắt đầu sao nhãng học hành, bỏ bê việc
làm ăn và lao vào cờ bạc rượu chè trác táng. Hết tiền thì chúng lén lấy các của
gia bảo bán đi. Cứ thế nhà lão suy sụp dần mà lão không biết, bởi tất cả đồ đạc
của cải trong nhà vẫn y nguyên đó, không mảy may suy suyển. Lão đâu biết rằng tất
cả những thứ lão còn thấy sờ sờ ra đó chỉ là hàng giả, hàng nhái mà đám con
cháu thuê người chế tác để lừa cái cặp mắt vốn đã kèm nhèm của lão.
Lại đùng một cái còn kinh thiên động địa hơn, khi người ta phát hiện lão Phỉnh đạo mạo, chỉn chu, quyền uy tột đỉnh kia lại
có vợ bé vào cái tuổi gần đất xa trời. Hơn thế nữa, lão còn lén cắt một phần
đất hương hoả của ông bà tổ tiên để cho gái. Tin dữ lan ra, các con lão Phỉnh
tức tối, lồng lộn. Chúng hộc tốc điều tra ngọn ngành. Quả đúng như thế. Thì ra
bao nhiêu năm nay lão đã thậm thụt đi lại với con mụ Huê cùng xóm nổi tiếng là lưu
manh, đê tiện và đĩ thoã. Cái con mẹ mà người ta thấy lão Phỉnh nhiều khi cũng ra
mặt khinh bỉ và căm ghét. Ấy thế mà, ấy thế mà … Có ai ngờ lão lại đổ đốn ra
như thế! Sự việc vỡ lở, lũ con lão Phỉnh đến nhà con mụ Huê toan làm dữ. Nhưng
cái thứ gái đĩ già mồm đó đã rất đĩnh đạc đưa ra chứng cứ ăn nằm sờ sờ giữa lão
với mụ, lại còn trưng cả thư từ hẹn thề mùi mẫn của lão, rồi cả mớ giấy tờ hiến
đất cho nó một cách rất ứ đúng luật pháp nữa chứ! Lũ con lão Phỉnh hậm hực đau đớn, nhục nhã đành quay về. Chúng nghĩ bụng để xem phen này lão ăn nói thế nào với
con cháu? Làm sao lão còn dám cao đạo nhìn mặt hàng xóm láng giềng?
Nhưng về đến nhà chúng mới hay
lão Phỉnh đã treo cổ chết tự bao giờ!
Lão chết vì xấu hổ, uất ức hay vì
ân hận? Chẳng ai mà biết được! Chỉ có điều lão chết thì xong thân lão, vì lão
cũng đã già và cả đời ăn sung mặc sướng, kẻ hầu người hạ. Chỉ có đám con
cháu lão là khổ, bởi chút gia sản còn sót lại là cái từ đường ấy cũng chỉ còn là
một mớ gỗ ván mục ruỗng chẳng đáng giá là bao.
Lão Cự
Ngày xưa, ở làng mình có lão Cự, người thấp đậm,
da bánh ít, đầu húi cua gần như trọc lóc, lúc nào cũng trần xì, chỉ mặc mỗi cái
quần nái thâm xắn quai cồng đã bạc thếch bạc thác, tướng đi thì uỳnh uỵch, chỉ
được mỗi con mắt thì lúc nào cũng hấp ha hấp háy vui vui, hiền hiền không làm
bọn trẻ chúng mình sợ hãi. Nhưng nói chung nhìn lão chẳng ra vẻ gì nếu không
nói là tầm thường xấu xí so với nhiều người khác. Ở cái vùng quê hẻo lánh, đất
cày lên sỏi đá, chó ăn đá gà ăn sỏi này, chỉ mỗi cái gió Lào thổi cũng đủ héo
rũ cả người chứ nói gì đến cây cối, ấy thế mà mấy công vườn nhà lão Cự lúc nào
cũng xanh ngăn ngắt với rau, chuối, khoai sắn, rồi cả một vườn cây ăn trái mùa
nào thức nấy, lại còn có cả cái ao con con thả cá nữa … Mọi thứ trong nhà lão
dường như lúc nào cũng sẵn. Bọn trẻ chúng mình thích lắm, những buổi trưa đi
học về, trời nắng như đổ lửa, ngồi ngoài giậu rào nhìn vào vườn nhà lão Cự mà
mát cả mắt rồi xăm soi xem có quả roi, quả ổi nào rơi rụng thì tìm cách khều ra
ngồi ăn với nhau. Thật tình cái vườn nhà lão Cự xanh mượt mà như thế chẳng phải
không có nguyên cớ mà rõ ràng là vì lão có đến ba bà vợ. Bà Cả, bà Hai, bà Ba.
Cả ba bà đều hay lam hay làm, đầu tắt mặt tối việc nhà cửa, vườn tược đến hàng
họ, chợ búa từ sáng sớm đến nhọ mặt người. Nhiều vợ nhưng lạ là lão chẳng có
đứa con nào. Không biết có phải vì thế mà lão thân thiện với trẻ con chúng mình
hơn những người khác chăng?
Lũ trẻ con bọn mình lúc bấy giờ cũng chẳng hiểu
làm sao lão Cự lại có nhiều vợ đến thế, có người bảo rằng lão xấu người nhưng
lại đẹp cái khác. Chẳng biết là đẹp cái gì, mà bọn mình cũng chẳng cần biết,
chỉ thấy là lạ. Thích lão nhất ở cái tài trị vợ. Lão giao hẹn chỉ cần một trong
ba bà gây ra điều lộn xộn trong nhà hay với làng xóm là cả ba bà đều bị phạt
đòn. Mỗi lần lão phạt đòn vợ là cả một cuộc vui đối với cả làng, nhất là với lũ
trẻ con bọn mình. Lão đánh vợ không cần dấu diếm, đánh công khai giữa bàn dân
thiên hạ, giữa ban ngày ban mặt, bởi nhà lão là ba gian nhà tranh vách đất
nhưng lúc nào cũng sạch sẽ, sáng sủa với bốn bên là liếp phên tre chống lên cho
mát nên ai cũng có thể nhìn thông thống vào nhà. Giữa nhà là cái giừơng rộng
bằng gỗ mít vừa làm chỗ nằm nghỉ trưa của lão, vừa là chỗ cả nhà ăn cơm, uống
nước, tiếp khách. Gian bên trái là buồng cho ba bà vợ, gian bên phải là buồng
ngủ của lão Cự. Chái sau là bếp núc, chuồng gà chuồng vịt nối liền với cái
giếng đá ong và ao cá. Mỗi lần đánh vợ, lão Cự bắt cả ba bà nằm trải sấp trên
cái giường ở gian giữa, còn lão ngồi trên cái đầu giường, tay cầm cái roi tre
nhìm nhịp, miệng kể tội các bà… Lũ trẻ chúng mình thích lắm, vì những lúc ấy
trông lão Cự vừa oai phong vừa ngộ nghĩnh, chả thế mà đứa nào cũng ước lớn lên
có nhiều vợ như lão. Cứ hết một lượt kể tội, lão lại vụt xuống một roi trên
mông một bà nào đấy, bọn trẻ chúng tôi bên ngoài lại nhao lên “Nhẹ quá, nhẹ
quá!”, lão Cự lại quay ra “Tiên sư bay, thế mà nhẹ à!”. Những lúc ấy người ta
không hề thấy sự giận dữ trong mắt lão mà chỉ thấy cái gì đó hiền hiền và yêu
thương. Sau lưng bọn trẻ con chúng mình lúc ấy thỉnh thoảng lại vang lên một
câu nói cay độc của một ông bà nào đấy “Gớm, hay hớm gì cái trò hề của thằng
tiệt tự!”. Bọn trẻ chúng tôi chẳng hiểu gì và cũng chẳng màng đến, chỉ mỗi quan
tâm đến lão Cự. Mỗi khi ăn đòn người ta thấy các bà vợ của lão Cự cũng khóc, nhưng
sau đó lại thấy các bà vui vẻ bảo ban nhau làm lụng việc nhà, chợ búa, cơm nước
và lão Cự cũng vẫn bình thường, xem như chẳng có chuyện gì xảy ra, lão vẫn dự
đám, đi nhà thờ hoặc sang chơi cờ nhà hàng xóm. Thỉnh thoảng nếu có ai hỏi sao
lão tài thế thì lão lại cười hề hề: ”Tài chi tui, chẳng qua là … hề hề …”.
Nhưng có người bảo cũng có lúc thấy lão ngồi một mình dưới hiên nhà hút thuốc
lào sòng sọc đến tận khuya rồi thở dài thườn thượt…
Có lần lão Cự làm một việc động trời khiến cả
làng nhốn nháo. Lần ấy lão đi đâu về không biết nhưng lại mang theo một cái đài
bán dẫn (thu thanh). Cả ngày hôm ấy cả làng náo động vì tiếng nhạc, tiếng ca
phát ra từ cái đài bán dẫn đó. Có kẻ ganh tị thì bảo lão Cự chơi trội, làm
tàng, nhưng có người lại bảo lão là người đầu tiên mang cái văn minh hiện đại
đến cho cái làng quê tăm tối này. Tối ấy, lão Cự thắp đèn hoa kỳ ngoài hiên,
rồi trải mấy manh chiếu xuống mảnh sân đất nện, pha trà và bày cả bánh cốm nữa.
Đàn ông đàn bà và nhất là lũ trẻ chúng tôi xúm đen xúm đỏ dưới sân để nghe
những âm thanh phát ra từ cái đài bán dẫn diệu kỳ được lão đặt trang trọng trên
chiếc bàn nước và còn cẩn thận phủ thêm một tấm voan, vốn là khăn trùm đầu của
một trong ba bà vợ. Tiếng ca tân nhạc cao vút của một ca sĩ nào đó thỉnh thoảng
lại chen vào tiếng khọt khẹt, khọt khẹt khiến lão Cự lại phải giở cái
khăn voan ra và khẽ lấy tay vê vê cái nút trên chiếc đài bán dẫn, âm thanh lại
trong trẻo rõ ràng, những lúc ấy, lão Cự lại bảo có cái gì chặn luồng sóng vào
đài. Cả làng thán phục, mấy mụ đàn bà chép miệng tiếc thầm, các lão đàn ông thì
hậm hực vì ganh ghét. Thế nhưng chiếc đài bán dẫn chỉ hát được chừng non tháng
thì tắt ngóm, chỉ còn mỗi tiếng khọt khẹt, khọt khẹt phát ra đều đặn, nghe bảo
lão Cự chạy chữa khối tiền nhưng cuối cùng cũng đành bó tay, có người lại bảo
hình như có lệnh trên cấm lão Cự không được sử dụng đài! Nhưng cũng có người
bảo, mẹ kiếp, lão vờ làm hỏng để nghe một mình, khốn nạn thế đấy! Làng xóm yên
bình trở lại, vắng hẳn tiếng ngấm nguýt xách mé của các ông các bà trong làng,
còn bọn trẻ chúng tôi thì cứ thắc mắc không biết bọn người hát hát, nói nói
trong đó họ lại đi đâu, về đâu?
Thế nhưng cái gia đình yên lành dưới tài tề gia
của lão Cự cũng bắt đầu có dấu hiệu rạn nứt. Đầu tiên là chuyện bà Ba có chửa.
Người ta nghĩ phen này lão Cự phải điên lên vì giận, bởi cái sự chửa của bà Ba
là một vết nhơ không thể gột rửa. Bà Ba ngoại tình, bà Ba cắm cái sừng tổ bố
lên đầu lão Cự! Nhục quá, nhục quá, phen này thì lão chỉ có nước độn thổ. Điều
ong tiếng ve râm ran cả xóm, những khuôn mặt đàn ông đàn bà phởn phơ trước nỗi
ê chề của lão. Nhưng không, lão Cự chẳng hề đau, chẳng hề buồn, mà ngược lại
lão còn tỏ ra hả hê vui sướng và hạnh phúc ra mặt. Lão đi chợ gánh hàng cho bà
Ba, đỡ bà lúc bước lên ngạch cửa, lão cười vang vang cả nhà, lão lợp lại mái
nhà, cơi nới thêm gian chái nữa để bà Ba có chỗ lót ổ. Rồi các bà Cả, bà Hai
đều rối rít chăm sóc cho bà Ba, các bà bảo nhau gánh vác mọi công việc để bà Ba
nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Thế là cả làng lại chưng hửng tẽn tò rồi thì ngạc nhiên.
Quái lạ! Sao thế nhỉ? Chả lẽ bao nhiêu năm tịt ngòi, bây giờ lão lại có khả
năng đẻ con? Lão là thánh à? Hay là lão chỉ giỏi che đậy cho vết nhơ trên mặt
lão? Mấy mụ đàn bà hóng hớt thì năng lui đến nhà lão hơn, mượn cớ là thăm hỏi
và mừng cho bà Ba, nhưng kỳ thực là để dò la ngọn nguồn. Bụng bà Ba ngày càng
lớn, lão Cự ngày càng vui. Dạo này, thỉnh thoảng lão còn mời được cả lão xã
trưởng và tay trung sĩ trung đội trưởng trung đội bảo an về nhà uống rượu. Cả
nhà cười vui như tết. Khi cánh đàn ông đàn bà trong làng bắt đầu mệt mỏi vì chờ
đợi ngày tàn lụi của nhà lão Cự thì đùng một cái, bà Ba bỏ đi. Ha ha, có thế
chứ, cây kim trong bọc lâu ngày cũng phải thòi ra, vải thưa sao che được mắt
thánh! Thế mới biết Giời có mắt! Cả làng lại râm ran xầm xì nào là bà Ba bỏ nhà
theo trai, bà Ba bị lão Cự tống cổ ra khỏi nhà, thậm chí có người còn bảo không
khéo lão Cự uất vì nhục nên đã giết bà Ba và phi tang không chừng. Có mấy lần
lão xã trưởng và tay trung sĩ trung đội bảo an đến nhà, họ không ăn uống, chỉ
ngồi một lúc rồi về. Người ta lại đồn họ đến để điều tra vì sự mất tích của bà
Ba. Cơ chừng thế này thì không chóng thì chầy thể nào lão Cự cũng bị
tóm và rũ tù thôi. Chẳng mấy chốc! Quân giết người! Thế nhưng lão Cự không bị
bắt, chí ít là chẳng ai thấy lão bị trói tay dắt đi, chỉ có điều lão Cự cũng
biến mất. Cả làng lại râm ran lão đi tìm bà Ba chứ gì hoặc lão nhục quá nên
phải trốn khỏi làng. Cả gian nhà và khu vườn nhà lão Cự trở nên trống vắng, cây
cối rau cỏ trong vườn dường như cũng không còn xanh nữa dù cho bà Cả, bà Hai
vẫn luôn tay chăm sóc. Đàn se sẻ làm tổ ở đầu hồi mọi ngày vẫn ríu ra ríu rít
bỗng trở nên im hơi lặng tiếng hơn, chúng buồn hay người buồn mà cảm ra như
thế! Rồi cây gạo trước cổng nhà bao năm nở hoa đỏ chót bỗng dưng vàng úa rồi
chết. Thiên nhân tương ứng chăng? Chuyện xảy ra ở nhà lão Cự khiến cho cả làng
đâm ra lặng lẽ vì người ta không còn ai để soi mói, để dèm pha nữa,
tựa như đám hát đã hết trò để xem nên khung cảnh cũng buồn bã
hiu quạnh.
Im lặng một thời gian, làng buồn hẳn, mọi câu
chuyên khác đều nhạt nhẽo, vô vị, rồi người ta chợt thấy rằng hình như họ đang
nhớ lão Cự và nhớ cả cái bà Ba giọng nhẹ mà ngọt như đường phèn hay mang cho lũ
trẻ khi thì khúc mía, khi thì rá ổi sẻ chín thơm lừng. Mấy bà hàng xóm thì chợt
nhận ra bà Ba tốt đáo để, thỉnh thoảng cần giật tạm vài đồng là bà Ba lúc nào
cũng sẵn sàng, không ky bo chắc lép. Từ ngày bà Ba đi rồi làng xóm trống trếnh, đìu
hiu hẳn ra. Rồi người ta lại nghĩ ối dào, con trong bụng mình thì mình đẻ,
mình đẻ thì mình nuôi, có gì mà phải xấu hổ! Cả lão Cự cũng vậy, cớ gì
phải bỏ làng mà đi, mình không có con thì con vợ mình cũng là con mình chứ sao
đâu! Tự nhiên người ta trở nên rộng lượng, khoan hòa…
Sau này, chiến tranh lan rộng, nhà tôi rời làng,
vào SG, từ đó tôi không biết tin tức gì về lão và các bà vợ nữa. Có bận lâu lắm
rồi, tình cờ gặp một người ở làng, tôi có hỏi, nhưng người ấy cũng chẳng biết
gì hơn về vợ chồng lão Cự.
(Truyện này tôi đã trích đăng trên Fb Tran Nam)
Thứ Hai, 4 tháng 5, 2009
Nhậu vai quần chúng
Bạn bè mình nhiều đứa thành đạt, cũng có chút vai vế ông nọ bà kia trong xã hội, chỉ có mình và mấy đứa nữa là nhân viên quèn loong toong. Có lẽ vì thương nhau thời đi học đầy gian khó mà mấy thằng thành đạt lại hay rủ rê mấy thằng thất thểu bọn mình nhậu nhẹt bù khú rồi nhớ chuyện ngày xưa. Những lần đó, bọn thành đạt bao giờ cũng giành quyền trả tiền. Khi thì thằng T giám đốc, khi thằng X phó chủ tịch, lúc là thằng M chủ tịch..., bọn mình chỉ việc có mặt đúng giờ, ăn uống nhiệt tình, tán gẫu thật vui, hò hét cật lực là được, miễn bàn chuyện chính trị chính em gì sất, sau đó nhà ai nấy về, việc ai nấy làm, một hai tháng sau lại gặp.
Nhậu vô tư như thế bọn mình gọi là nhậu vai quần chúng, ví như bên cạnh Kim Siêu Quần trong vai Bao Chửng, Lưu Gia Linh trong vai Võ Tắc Thiên thì còn biết bao kẻ đóng vai quân hầu, quân sĩ, rồi vai quần chúng nhân dân vô danh tiểu tốt chỉ làm mỗi nhiệm vụ đi qua đi lại rồi lăn đùng giả chết chẳng hạn ... Xét cho cùng bất kỳ nơi nào hễ có thủ lĩnh thì phải có quần chúng, không quần chúng thì thủ lĩnh, chứ lãnh tụ cũng chẳng ra quái gì. Mác chẳng từng nói quần chúng là người làm nên lịch sử là gì. Chính quần chúng làm tôn lên vai trò địa vị của thủ lĩnh. Quần chúng làm cho mọi sự việc trở nên qui mô, “hoành tráng” và vĩ đại hơn.
Nhậu mãi như thế, đôi khi nghĩ cũng cảm thấy ái ngại, chả gì bọn mình cũng là người tử tế dù quèn cũng đường đường chính chính có việc làm, có lương tháng, cũng vợ con, nhà cửa hẳn hoi mà cứ đóng vai quần chúng mãi thì mất thể diện quá. Thế làmấy thằng quần chúng quyết định làm cách mạng (dù chỉ một lần thôi). Dành dụm vài tháng, dấu vợ con được một tí và chủ động một cách ngênh ngang mời đám thành đạt đi nhậu một bữa. Thật sung sướng, thật hả hê khi được ở thế chủ động, đóng vai thủ lĩnh, bọn mình ăn nói chững chạc hơn, đi đứng bề thế hơn. Các em tiếp viên nhìn bọn mình lần này cũng khác, kiêng nể một phép. Tiệc gần tàn, bọn mình lớn giọng tính tiền, bọn thành đạt hoảng hồn, đực mặt, trố mắt nhìn (bọn nó tưởng bọn mình trúng gió hay say quá hoá dở hơi gì đó!). Em tiếp viên ưỡn ẹo mang tờ bill lên, bọn mình liếc qua, liếc lại rồi … lé luôn. Bố khỉ! Sao lại lắm thế nhỉ? May sao, thằng bạn thành đạt bên cạnh đã giật vội cái bill trong tay mình và hô lớn “Để đó … tiếp tục … dzô …”. Thế là... cuộc cách mạng bất thành. Và bọn mình lại tiếp tục nhậu trong vai quần chúng.
Thế mới biết làm cách mạng không hề đơn giản chút nào! Thôi thì con sãi ở chùa …
Nhậu vô tư như thế bọn mình gọi là nhậu vai quần chúng, ví như bên cạnh Kim Siêu Quần trong vai Bao Chửng, Lưu Gia Linh trong vai Võ Tắc Thiên thì còn biết bao kẻ đóng vai quân hầu, quân sĩ, rồi vai quần chúng nhân dân vô danh tiểu tốt chỉ làm mỗi nhiệm vụ đi qua đi lại rồi lăn đùng giả chết chẳng hạn ... Xét cho cùng bất kỳ nơi nào hễ có thủ lĩnh thì phải có quần chúng, không quần chúng thì thủ lĩnh, chứ lãnh tụ cũng chẳng ra quái gì. Mác chẳng từng nói quần chúng là người làm nên lịch sử là gì. Chính quần chúng làm tôn lên vai trò địa vị của thủ lĩnh. Quần chúng làm cho mọi sự việc trở nên qui mô, “hoành tráng” và vĩ đại hơn.
Nhậu mãi như thế, đôi khi nghĩ cũng cảm thấy ái ngại, chả gì bọn mình cũng là người tử tế dù quèn cũng đường đường chính chính có việc làm, có lương tháng, cũng vợ con, nhà cửa hẳn hoi mà cứ đóng vai quần chúng mãi thì mất thể diện quá. Thế làmấy thằng quần chúng quyết định làm cách mạng (dù chỉ một lần thôi). Dành dụm vài tháng, dấu vợ con được một tí và chủ động một cách ngênh ngang mời đám thành đạt đi nhậu một bữa. Thật sung sướng, thật hả hê khi được ở thế chủ động, đóng vai thủ lĩnh, bọn mình ăn nói chững chạc hơn, đi đứng bề thế hơn. Các em tiếp viên nhìn bọn mình lần này cũng khác, kiêng nể một phép. Tiệc gần tàn, bọn mình lớn giọng tính tiền, bọn thành đạt hoảng hồn, đực mặt, trố mắt nhìn (bọn nó tưởng bọn mình trúng gió hay say quá hoá dở hơi gì đó!). Em tiếp viên ưỡn ẹo mang tờ bill lên, bọn mình liếc qua, liếc lại rồi … lé luôn. Bố khỉ! Sao lại lắm thế nhỉ? May sao, thằng bạn thành đạt bên cạnh đã giật vội cái bill trong tay mình và hô lớn “Để đó … tiếp tục … dzô …”. Thế là... cuộc cách mạng bất thành. Và bọn mình lại tiếp tục nhậu trong vai quần chúng.
Thế mới biết làm cách mạng không hề đơn giản chút nào! Thôi thì con sãi ở chùa …
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)